Hiển thị các bài đăng có nhãn Ứng-dụng-GIS. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ứng-dụng-GIS. Hiển thị tất cả bài đăng

27 thg 3, 2014

Bản đồ số - công cụ hỗ trợ quản lý đất đai


Lần đầu tiên Việt Nam có bộ cơ sở dữ liệu (CSDL) nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/10.000 gắn với mô hình số độ cao phủ trùm cả nước. Bộ bản đồ số này phục vụ đắc lực cho công  tác quản lý điều hành quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng. Đặc biệt, trong lĩnh vực đất đai, đây là công cụ hỗ trợ quan trọng trong quản lý.
CSDL nền TP. Cà Mau
Lợi ích khi sử dụng CSDL nền thông tin địa lý 
Với bộ cơ sở dữ liệu này, chỉ cần cử chỉ nhấp chuột là chúng ta có thể tìm được đối tượng cần tìm kiếm như loại đất, thửa đất, diện tích đất cụ thể như thế nào. Nếu như trước đây mỗi khi có biến động ở mỗi thửa đất, cán bộ địa chính thường phải tiến hành công việc đo lại thửa đất đó rồi vẽ lại trên bản đồ thì nay chỉ cần cập nhật thông tin nguyên nhân có sự thay đổi là xong. Điều này giúp cho người làm công tác quản lý đất đai nắm được thông tin cụ thể, chi tiết để đưa ra những quyết định hợp lý và giúp cho việc quản lý đất đai có hiệu quả cao.
Ngoài ra, với bộ cơ sở dữ liệu này chúng ta có được lớp thông tin phong phú, chi tiết đến từng đơn vị xã, phường. Đặc biệt, cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/10.000 gắn với mô hình số độ cao còn có ý nghĩa quan trọng trong những trường hợp khẩn cấp như lũ lụt, sạt lở đất, lựa chọn những điểm cao và tính khoảng cách tới đó để có kế hoạch di dân. Những thông tin này phục vụ hữu hiệu cho các kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu…
Ông Nguyễn Tuấn Hùng, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cho biết, cơ sở dữ liệu nền  thông tin địa lý là một dạng tài liệu đặc biệt. Khác với bản đồ bằng giấy truyền thống, CSDL nền thông tin địa lý (trong đó có bản đồ số) đã thể hiện bức tranh về tự nhiên, dân cư, cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông đường bộ, mạng lưới đường bộ, mạng lưới sông, suối… tương đối chi tiết. Đặc biệt là, thông qua bộ sản phẩm này, chúng ta có thể truy cập được nhiều thuộc tính, trình bày hiển thị và chiết xuất theo phạm vi địa giới hành chính đến cấp xã, trong đó người dùng có thể lựa chọn theo từng đối tượng, chủ đề hoặc nhiều đối tượng trên phạm vi mà mình quan tâm cùng một lúc mà trên bản đồ giấy trước đây không có.
Theo ông Hùng, điểm khác biệt chính giữa cơ sở dữ liệu thông tin địa lý được thực hiện từ hai dự án này của Chính phủ với các tài liệu trước đây là toàn bộ dữ liệu được xây dựng theo bộ chuẩn thông tin địa lý thống nhất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Điều này đảm bảo tính nhất quán về nội dung và chất lượng dữ liệu nền để phục vụ cho các ứng dụng của các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước, hướng tới việc triển khai thành lập"Cơ sở hạ tầng không gian quốc gia Việt Nam - VNSDI", có vai trò rất quan trọng trong điều kiện hiện nay nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO.
Bà Vũ Thị Bích Việt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang cho biết, trước đây, tỉnh Tuyên Quang đã được bàn giao nhiều tư liệu sản phẩm đo đạc bản đồ như bản đồ nền các huyện, bản đồ địa chính cơ sở 1/10.000, bản đồ địa chính đất lâm nghiệp tỷ lệ 1/10.000 và hiện nay tỉnh đang triển khai thực hiện dự án xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai. Cho đến nay, tỉnh Tuyên Quang đã được Bộ TN&MT quan tâm và bàn giao bộ cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý và bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000. Đây là tài liệu quan trọng cung cấp nguồn thông tin, tư liệu làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Không chỉ Tuyên Quang mà nhiều tỉnh, thành phố khác trong cả nước rất vui mừng khi được bàn giao bộ cơ sở dữ liệu này. Với họ, đây như "bảo bối" vô cùng quan trọng để quản lý đa ngành, đa lĩnh vực để phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

Từ thực tiễn đòi hỏi làm cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý
Theo các chuyên gia về đo đạc và bản đồ, thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý phủ trùm cả nước dựa trên việc hoàn chỉnh hệ thống bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000 phủ trùm lãnh thổ Việt Nam và mô hình số độ cao phủ trùm cả nước sẽ phục vụ cho việc nâng cao chất lượng quy hoạch, quyết định hợp lý về đầu tư, tăng cường cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý các ngành và địa phương.
Chính vì vậy, để thực hiện việc xây dựng hệ thống thông tin địa lý trên phạm vi cả nước, Bộ TN&MT đã đề xuất và triển khai hai dự án "Thành lập CSDL nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/10.000 gắn với mô hình số độ cao phủ trùm cả nước" và "Thành lập CSDL nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/2.000, 1/5.000 các khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm" được triển khai từ năm 2008 theo Quyết định số 1867/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/12/2007.  Dự án do Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam chủ trì, tổ chức triển khai thực hiện các thiết kế kỹ thuật - dự toán, quản lý Nhà nước về chất nước sản phẩm trên phạm vi cả nước. Đồng thời phối hợp với Tổng Công ty TN&MT Việt Nam, Trung tâm Viễn thám Quốc gia và Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ Việt Nam thực hiện. Sau hơn 3 năm thi công, dự án đã hoàn thành CSDL nền  thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/10.000 của hầu hết các tỉnh trong cả nước. Đến nay, Cục Đo đạc và Bản đồ đã tiến hành bàn giao cho khoảng 30 tỉnh, thành phố trong cả nước. Dự kiến, từ nay đến cuối năm, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam sẽ tiến hành bàn giao cho các tỉnh, thành phố còn lại. Tuy nhiên, đây là sản phẩm mới nên không tránh khỏi những thiếu sót. Bộ TN&MT đang chỉ đạo Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam hoàn thiện thêm quy trình công nghệ cũng như các văn bản quản lý kỹ thuật để việc khai thác sản phẩm có hiệu quả nhất và tránh lãng phí.

Nguồn: http://monre.gov.vn

24 thg 3, 2014

Tìm hiểu tiêu chuẩn OGC

Hệ thống thông tin địa lý – GIS ra đời đánh dấu một bước phát triển trong ngành công nghệ quản lý không gian lãnh thổ trên cơ sở tích hợp các thông tin bản đồ và thông tin thuộc tính của các đối tượng và ngày càng được sử dụng trong nhiều ngành nghề khác như quản lý đất đai, xây dựng bản đồ sử dụng đất, quản lý hành chính, v.v. Vì thế, những ưu điểm của công nghệ GIS đang được quan tâm chú ý phát triển.
Demo ứng dụng WebGIS bằng công nghệ GIS
Mặt khác, như chúng ta đã biết, vai trò của Internet ngày nay càng được khẳng định và không thể thiếu trong việc quảng bá thông tin của một quốc gia hay lãnh thổ. Với Web, ta có thể chia sẻ thông tin với mọi người, mọi nơi, mọi lúc, v.v. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống mạng toàn cầu Internet, các chuyên gia bắt đầu quan tâm đến sự kết hợp công nghệ GIS và công nghệ Web, hay còn gọi là WebGIS nhằm phát huy những thế mạnh của công nghệ GIS thông qua nền tảng Web. Nói cách khác, nhờ vào WebGIS mà ta có thể sử dụng những tính năng của một hệ GIS thực thụ và có thể thực hiện việc chia sẻ thông tin một cách tiện lợi và dễ dàng.

Không chỉ vậy, bắt nhịp cùng xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng sử dụng mã nguồn mở được đưa ra trong ngành công nghệ thông tin và nhanh chóng được sự hưởng ứng và đóng góp của các nước trên thế giới. Tổ chức OGC (Open Geospatial Consortium) với mục tiêu xây dựng các chuẩn thực thi chung cho lĩnh vực dữ liệu không gian càng đưa GIS gần đến với mọi người hơn. Và như chúng ta đã biết, WebGIS kết hơp với các chuẩn mở OGC là con đường giới thiệu những sản phẩm về GIS và dữ liệu địa lý nhanh nhất đến cộng đồng mạng toàn cầu.

Vì vậy, chia sẻ những dữ liệu về du lịch bằng con đường WebGIS kết hợp với các chuẩn OGC thật sự là một hướng đi đầy thử thách nhưng hiệu quả mang lại thì không nhỏ. 

Tác giả: Trần Quốc Bảo
Khóa luận tốt nghiệp: 2004 - 2008
Chuyên ngành: Bản đồ - Viễn Thám - GIS
Số trang: 74
Định dạng: PDF

Download tài liệu đầy đủ bên dưới

Sưu tầm: Chí Tình

20 thg 3, 2014

Xây dựng bản đồ đất phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng Huyện Đầm Dơi, Tỉnh Cà Mau

Điều tra bổ sung, xây dựng bản đồ đất và bản đồ thích nghi đất đai phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng Huyện Đầm Dơi, Tỉnh Cà Mau

y dựng bản đồ đất và bản đồ thích nghi đất đai 
Huyện Đầm Dơi là một trong những huyện ven biển của tỉnh Cà Mau ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Do đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện Đầm Dơi có những hạn chế quan trọng là đất Phèn, nước nhiễm mặn và không có nguồn nước ngọt tưới cho sản xuất, các hạn chế này chi phối khả năng sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện. Trong thực tế sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp những năm qua, do những hạn chế này (chủ yếu là đất và nước) phối hợp với những biến động thị trường nông sản đã thúc bách nông dân địa phương tự chuyển đổi sản xuất trên đất đai của họ. Một trong những hướng chuyển đổi sản xuất quan trọng ở địa bàn này là chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang nuôi tôm thủy sản nước lợ.

Chương trình “Điều tra bổ sung, xây dựng bản đồ đất và bản đồ thích nghi đất đai phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng cấp huyện” thực hiện ở ĐBSCL trong 2 năm (2005 – 2007) đã chọn huyện Đầm Dơi là địa bàn triển khai nhằm đánh giá lại khả năng thích nghi đất đai hiện nay của huyện, qua đó đề xuất phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm khai thác hợp lý và bền vững hơn tài nguyên đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn huyện Đầm Dơi.

Download tài liệu đầy đủ bên dưới:


Nguồn: Internet
Tổng hợp: Chí Tình

15 thg 3, 2014

Một số ứng dụng WebGIS

WebGIS có tiềm năng lớn trong công việc làm cho thông tin địa lý trở nên hữu dụng và sẵn sàng tới số lượng lớn người sử dụng trên thế giới. Với việc sử dụng bản đồ trực tuyến, giải pháp này sẽ giúp khách hàng có thể cập nhật dữ liệu lên bản đồ để phục vụ cho

Tổng quan

Cùng với sự bùng nổ về công nghệ Internet, GIS cũng đã phát triển công nghệ cho phép chia sẻ thông tin thông qua Internet bằng cách kết hợp GIS và Web để tạo thành WebGIS.
Công nghệ GIS trên nền Web (hay còn gọi là WebGIS) là hệ thống thông tin địa lý phân tán trên một mạng các máy tính để tích hợp, trao đổi các thông tin địa lý trên mạng Internet. WebGIS có tiềm năng lớn trong công việc làm cho thông tin địa lý trở nên hữu dụng và sẵn sàng tới số lượng lớn người sử dụng trên thế giới. Với việc sử dụng bản đồ trực tuyến, giải pháp này sẽ giúp khách hàng có thể cập nhật dữ liệu lên bản đồ để phục vụ cho mục đích quản lý.     
Hiện nay, có rất nhiều giải pháp bản đồ trực tuyến được các nhà phát triển đưa ra như Mapbender, MapBuilder, MapGuide Open Source, MapServer, OpenLayers, Geoserver chúng đều là các phần mềm mã nguồn mở hỗ trợ xây dựng các ứng dụng về bản đồ trên nền web. Nếu kết hợp xây dựng WebGIS trên phần mềm mã nguồn mở thì sẽ có được các lợi ích mà phần mềm mã nguồn mở mang lại như chi phí đầu tư về phần mềm giảm, tận dụng được các thành quả ý tưởng chung của cộng đồng, tính chất an toàn cao, mạnh hơn, tùy biến tương tác nhiều hơn.

Sự cần thiết của công nghệ
Đa người dùng?
Hệ thống Web map server là một sự lựa chọn kinh tế.
- Với khả năng phân phối thông tin địa lý trên toàn thế giới
- Người dùng internet có thể truy cập đến các ứng dụng GIS mà không phải mua phần mềm.
- Đối với phần lớn người dùng không có kinh nghiệm về GIS thì việc sử dụng WebGIS sẽ đơn giản hơn việc sử dụng các phần mềm ứng dụng GIS khác.
- WebGIS là chức năng bổ sung cho GIS hoạt động trong môi trường rộng hơn thông qua mạng và được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong thương mại, quản lý nhà nước và giáo dục. Nhiều ứng dụng sẽ được chạy trên mạng nội bộ trong doanh nghiệp và cơ quan chính phủ như là một phương tiện phân phối và sử dụng dữ liệu không gian địa lý chung.

Thường xuyên cập nhật bản đồ và cơ sở dữ liệu?

Với một hệ thống dựa trên Server, tất cả các bản đồ và dữ liệu khác được duy trì tập trung. Khi máy chủ được cập nhật, tất cả mọi người ngay lập tức sử dụng thông tin cập nhật trong ngày.
Sử dụng mạng WAN chậm? Một số người dùng không có quyền truy cập mạng LAN?
Bản đồ dựa trên máy chủ Web luôn sẵn sàng cho bất cứ ai có quyền truy cập web, dù họ có hoặc không đi du lịch hoặc mạng LAN trong công ty hay mang WAN không sẵn có.

Ý nghĩa khi tự tạo dịch vụ bản đồ?
Một số yêu cầu của người sử dụng bản đồ là đơn giản và trực tiếp. Bản đồ dựa trên Web giúp cho những người sử dụng phi kỹ thuật tự thực hiện mà không phải chờ đợi.
Bảo mật dữ liệu? 
Với một hệ thống dựa trên máy chủ, tất cả các bản đồ và dữ liệu được duy trì trên các máy chủ của công ty hoặc cơ quan. Việc bảo mật và sao lưu có thể được áp dụng.
Khi nào cần suy nghĩ hai lần trước khi sử dụng bản đồ trên web
Bản đồ dựa trên web không thể thay thế hoàn toàn cho phần mềm phân tích bản đồ trên máy tính. Trong các tình huống sau đây bạn nên so sánh chi tiết về các lựa chọn trước khi chọn cách tiếp cận một Web Map:
- Việc biên tập bản đồ phức tạp: Bởi độ trễ vốn có trong mạng Internet, chỉnh sửa các đa giác và các đối tượng đường phức tạp là khó khăn và thường lúng túng.
- Khối lượng dữ liệu lớn: Rất hiếm hệ thống Web Maps mà cung cấp hỗ trợ tốt khi khối lượng dữ liệu lớn.
- Hệ thống menu và giao diện điều khiển bản đồ phức tạp: Có thể tải về thông qua trình Java hoặc Windows, nhưng đòi hỏi phải lập trình thêm. 


Ứng dụng
Có những sự việc diễn ra xung quanh cuộc sống của chúng ta hàng ngày, chẳng hạn như trong tình huống nào đó chúng ta có thể đặt ra các câu hỏi “có ATM rút tiền nào gần đây không? ”, “Cây xăng nào gần đây nhất?”, “Phòng khám nào gần nhất?”, “Cửa hàng nào bán loại mặt hàng cần dùng…
Để trả lời cho các câu hỏi trên công nghệ webGIS hoàn toàn có thể trợ giúp mọi yêu cầu của bạn.
Xác định vị trí của phòng khám, phòng thí nghiệm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe gần nhất.
 - Xác định loại trường (đại học, cao đẳng, trung cấp …) và địa chỉ xung quanh đó để tìm kiếm, tham khảo dữ liệu nền đường phố
Hệ thống được đưa ra nhằm quản lý và giám sát các thông tin chi nhánh, đại lý, cửa hàng của các đơn vị quản lý trên một nền thông tin địa lý phong phú và đa dạng.
-  Quản lý hệ thống phân phối hàng hóa, các mặt hàng, khả năng tiêu thụ, doanh thu lợi nhuận thu được

Dưới đây là một số các ứng dụng webGIS





* Tìm kiếm dịch vụ y tế

Tìm kiếm dịch vụ y tế

- Gần nhất
- Hướng dẫn lái xe
- Thông tin về chất lượng y tế
- Thông tin về chuyên khoa khám chữa 
 * Tìm kiếm các ATM:

Tìm kiếm các ATM:
Hệ thống định vị máy ATM và hướng dẫn lái xe.
-Tìm máy rút tiền gần nhất
- Hướng dẫn tìm đường đi từ vị trí khách hàng đến vị trí ATM
- Giao diện điện thoại di động
- Theo dõi lượng tiền mặt tại các ATM để kịp thời bổ sung, phân phối theo nhu cầu của khách hàng.       
* Tìm kiếm trạm xăng dầu

Tìm kiếm trạm xăng dầu

- Định vị các trạm xăng dầu
- Tìm trạm xăng gần nhất
- Hướng dẫn chỉ đường từ vị trí khách hàng đến trạm xăng dầu gần đó. 

 * Tìm kiếm các trường học
Tìm kiếm các trường học


- Xem dữ liệu điểm trường trên bản đồ
- Xem thông tin thống kê theo từng năm học 


* Hệ thống quản lý đại lý
Hệ thống quản lý đại lý
- Hệ thống hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin các điểm đại lý
- Thông tin đại lý hiển thị theo nội dung yêu cầu: Doanh số, loại đại lý…
- Tìm đường đi ngắn nhất trên bản đồ đến vị trí đại lý.      

23 thg 2, 2014

Công nghệ GIS

Khái niệm hệ thống thông tin địa lý (GIS - Geographic Information System) xuất hiện từ những năm 1960 và cho đến nay Công nghệ GIS đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Theo định nghĩa, GIS là một hệ thống thông tin được thiết kế để thu thập, cập nhật, lưu trữ, tích hợp và xử lý, tra cứu, phân tích và hiển thị mọi dạng dữ liệu địa lý. Với thực tế là gần như mọi hoạt động của con người đều gắn liền với một địa điểm nào đó, nghĩa là với một tọa độ địa lý xác định, GIS đã trở thành nền tảng công nghệ đặc biệt hữu dụng trong quản lý và xử lý tích hợp thông tin đa ngành, hỗ trợ việc ra quyết định chính xác và kịp thời.
Các thành phần GIS
Hệ thống thông tin địa lý GIS là một công cụ tập hợp những quy trình dựa trên máy tính để lập bản đồ, lưu trữ và thao tác dữ liệu địa lý, phân tích các sự vật hiện tượng thực trên trái đất, dự đoán tác động và hoạch định chiến lược.

Một tập hợp có tổ chức của phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và con người được thiết kế để thu nhận, lưu trữ, cập nhật, thao tác phân tích làm mô hình và hiển thị tất cả các dạng thông tin địa lý có quan hệ không gian nhằm giải quyết các vấn đề về quản lý và quy hoạch.
Phần hỗ trợ công nghệ GIS
GIS sẽ làm thay đổi đáng kể tốc độ mà thông tin địa lý được sản xuất, cập nhật và phân phối. GIS cũng làm thay đổi phương pháp phân tích dữ liệu địa lý, hai ưu điểm quan trọng của GIS so với bản đồ giấy là:
- Dễ dàng cập nhật thông tin không gian.
- Tổng hợp hiệu quả nhiều tập hợp dữ liệu thành một cơ sở dữ liệu kết hợp.
Quy trình xử lý GIS
GIS lưu giữ thông tin về thế giới thực dưới dạng tập hợp các lớp chuyên đề có thể liên kết với nhau nhờ các đặc điểm địa lý. Điều này đơn giản nhưng vô cùng quan trọng và là một công cụ đa năng đã được chứng minh là rất có giá trị trong việc giải quyết nhiều vấn đề thực tế, từ thiết lập tuyến đường phân phối của các chuyến xe, đến lập báo cáo chi tiết cho các ứng dụng quy hoạch, hay mô phỏng sự lưu thông khí quyển toàn cầu.
Từ thế giới thực đến thể hiện lên dữ liệu GIS
Tham khảo địa lý các thông tin địa lý hoặc chứa những tham khảo địa lý hiện (chẳng hạn như kinh độ, vĩ độ hoặc toạ độ lưới quốc gia), hoặc chứa những tham khảo địa lý ẩn (như địa chỉ, mã bưu điện, tên vùng điều tra dân số, bộ định danh các khu vực rừng hoặc tên đường). Mã hoá địa lý là quá trình tự động thường được dùng để tạo ra các tham khảo địa lý hiện (vị trí bội) từ các tham khảo địa lý ẩn (là những mô tả, như địa chỉ). Các tham khảo địa lý cho phép định vị đối tượng (như khu vực rừng hay địa điểm thương mại) và sự kiện (như động đất) trên bề mặt quả đất phục vụ mục đích phân tích.
Hệ thống thông tin địa lý làm việc với hai dạng mô hình dữ liệu địa lý khác nhau về cơ bản - mô hình vector và mô hình raster. Trong mô hình vector, thông tin về điểm, đường và vùng được mã hoá và lưu dưới dạng tập hợp các toạ độ x,y. Vị trí của đối tượng điểm, như lỗ khoan, có thể được biểu diễn bởi một toạ độ đơn x,y. Đối tượng dạng đường, như đường giao thông, sông suối, có thể được lưu dưới dạng tập hợp các toạ độ điểm. Đối tượng dạng vùng, như khu vực buôn bán hay vùng lưu vực sông, được lưu như một vòng khép kín của các điểm toạ độ.
Mô hình vector rất hữu ích đối với việc mô tả các đối tượng riêng biệt, nhưng kém hiệu quả hơn trong miêu tả các đối tượng có sự chuyển đổi liên tục như kiểu đất hoặc chi phí ước tính cho các bệnh viện. Mô hình raster ddược phát triển cho mô phỏng các đối tượng liên tục như vậy. Một ảnh raster là một tập hợp các ô lưới. Cả mô hình vector và raster đều được dùng để lưu dữ liệu địa lý với nhưng ưu điểm, nhược điểm riêng, Các hệ GIS hiện đại có khả năng quản lý cả hai mô hình này.
Về cơ bản, GIS dựa trên một cơ sở dữ liệu (CSDL) có cấu trúc, có khả năng thể hiện điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, tình hình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của một vùng lãnh thổ trên khía cạnh địa lý và theo thời gian. Với cách thức quản lý tích hợp dữ liệu không gian (bản đồ) đồng thời với các thuộc tính đi kèm (dữ liệu phi không gian) cùng với những công cụ liên kết dữ liệu, phân tích kết hợp, chồng xếp dữ liệu, GIS cho phép các nhà hoạch định chính sách phân tích đánh giá hiện trạng, dự báo tương lai, đề xuất các định hướng phát triển và các nhà quy hoạch kết hợp hiệu quả các vấn đề phát triển KT-XH và vấn đề môi trường trong quy hoạch phát triển bền vững. Hơn nữa, khi CSDL GIS toàn diện được tạo lập thì việc khai thác phục vụ quản lý quy hoạch, lựa chọn các ưu tiên phát triển và cải thiện môi trường… sẽ được dễ dàng, thuận lợi hơn dựa trên đặc tính tổng thể và tính kế thừa của GIS. GIS cũng hỗ trợ phổ biến thông tin đến người dân một cách thuận lợi và như vậy, sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập quy hoạch phát triển và giám sát thực hiện.

Ảnh minh hoạ: Các ứng dụng đa dạng của công nghệ GIS (Nguồn: ESRI)
Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và các công nghệ liên quan như trắc địa, bản đồ, công nghệ định vị từ vệ tinh (GNSS), công nghệ viễn thám... công nghệ GIS đã tạo ra một sự phát triển bùng nổ các ứng dụng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, môi trường, quản lý vùng lãnh thổ đa ngành. Nhờ những khả năng phân tích và xử lý đa dạng, cong nghe GIS được coi là công cụ trợ giúp cho việc ra quyết định trong nhiều hoạt động KT-XH và an ninh quốc phòng của các quốc gia trên thế giới. GIS giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, cho tổ chức, cá nhân… đánh giá được hiện trạng của các quá trình, các thực thể tự nhiên, kinh tế, quốc phòng qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin gắn với một nền hình học nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu đầu vào.
Tại Việt Nam công nghệ GIS cũng đã được tiếp nhận và nghiên cứu khá sớm với những qui mô khác nhau và mục đích khác nhau. Nhiều tỉnh, thành đặc biệt quan tâm và đầu tư lớn, như: TP Hồ Chí Minh đã lập dự án ứng dụng GIS vào quản lý đô thị với kinh phí hơn 70 tỷ đồng, Dự án GIS - Huế với tổng kinh phí hơn 20 tỷ đồng. Ngoài ra, nhiều địa phương khác cũng đã xây dựng Dự án GIS tổng thể Đồng Nai, Xay dung tong the Ha Noi, Dự án GIS ở Khánh Hòa, ung dung GIS o Vung Tau, v.v.

Nguồn: Tổng hợp
Chí Tình

8 thg 2, 2014

Chuyên ngành thuộc Bộ môn Bản đồ - Viễn thám - GIS

Chương trình Cử nhân Địa Lý chuyên ngành thuộc Bộ môn Bản đồ - Viễn thám - GIS  được thành lập năm 2005, bắt đầu đào tạo chuyên ngành từ năm 2007. Bộ môn Bản đồ - Viễn thám - GIS được thành lập trên cơ sở yêu cầu thực tế của khoa học Địa lý, các nhà địa lý phải có khả năng sử dụng các kiến thức bản đồ, viễn thám và hệ thống thông tin địa lý như là những công cụ nghiên cứu chính trong khoa học địa lý; và sự phát triển của các ngành khoa học, đặc biệt là ngành tin học. Viễn thám, Hệ thống thông tin địa lý, Bản đồ là một trong các thành phần của Khoa học Hệ thống Thông tin Địa lý (Geographic Information System Science - GISs) đã và đang có những đóng góp lớn trong nghiên cứu địa lý nói chung.


1. Yêu cầu đào tạo  (đối với sinh viên)
          Sinh viên theo học khoa Địa lý sau khi đã tích luỹ đủ số tín chỉ trong 4 học kỳ đầu theo yêu cầu chung của ngành địa lý, căn cứ vào khả năng học tập và nguyện vọng về chuyên ngành có thể đăng ký theo học chuyên ngành Bản đồ-Viễn thám-GIS trong các học kỳ tiếp theo. Do đặc thù riêng của Khoa học Hệ thống thông tin địa lý nói chung (kỹ thuật), bộ môn Bản đồ-Viễn thám-GIS có những yêu cầu riêng đối với sinh viên theo học về:
          - Khả năng và tư duy tính toán
         - Có kết quả cao trong các học phần kiến thức cơ bản, đại cương  về bản đồ, GIS, viễn thám
       - Có kết quả khá trở lên các học phần kiến thức tự nhiên, môi trường.
          - Khả năng suy luận tổng hợp các kiến thức địa lý
          Trong các nội dung đào tạo của bộ môn, phần lớn đều yêu cầu khả năng tính toán, toán thống kê, kỹ năng máy tính, tin học. Sinh viên sẽ được đào tạo, hướng dẫn về tư duy tổng hợp trong ngành địa lý, có khả năng vận dụng các kiến thức địa lý với các kiến thức và kỹ năng chuyên ngành đế giải quyết các vấn đề mang tính địa lý nói chung.
2. Mục tiêu đào tạo
Về phẩm chất
    -  Có tinh thần hợp tác và có trách nhiệm trong công việc
   -  Có ý thức bảo vệ môi trường
   - Năng động, có ý thức về việc không ngừng học tập nâng cao trình độ
Về năng lực nhận thức, tư duy
    - Có phương pháp tư duy độc lập và phản biện 
    - Có khả năng tư duy không gian và tư duy hệ thống trong quá trình quan sát và đánh giá vấn đề
    - Có kỹ năng làm việc cá nhân, kỹ năng làm việc nhóm và hợp tác giải quyết vấn đề
Về kiến thức
    - Nắm vững kiến thức của ngành địa lý
    - Kiến thức, kỹ năng chuyên ngành:
  + Nắm vững kiến thức về bản đồ, viễn thám và GIS
  + Có khả năng ứng dụng kỹ thuật viễn thám, GIS và các phần mềm tin học chuyên dụng trong việc giải quyết các bài toán liên quan đến không gian
  + Có kỹ năng xây dựng bản đồ, giải đoán ảnh VT, xây dựng dữ liệu GIS
3. Cơ hội nghề nghiệp
          - Làm việc trong các dự án phát triển, dự án liên ngành của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức quốc tế hoặc phi chính phủ, các công ty, doanh nghiệp kinh tế, xã hội về vấn đề:
    + Thu thập xử lý, phân tích và cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định trong quy hoạch, quản lý và tổ chức không gian lãnh thổ.
    + Thiết kế, xây dựng và quản lý các dự án nghiên cứu và ứng dụng GIS.
     - Nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng và phổ thông.
     - Tiếp tục theo học chuyên sâu ở bậc Cao học và Tiến sĩ trong lãnh vực phù hợp như Bản đồ, Viễn thám, GIS, Địa lý, Môi trường.

4. Chương trình đào tạo
          Sau khi hoàn tất phương giáo dục đại cương (43TC) và phần cơ sở ngành Địa lý (42TC), sinh viên sẽ theo học phần chuyên ngành (51TC)

Chương trình đào tạo chuyên ngàn gồm ba nội dung lớn là Bản đồ, Viễn thám và hệ thông thông tin địa lý (GIS) gắn kết với nhau về kiến thức, kỹ năng, tư duy bổ sung cho nhau và mang tính kế thừa. Các nội dung học sau cần có kiến thức và kỹ năng của các học phần trước.

Trong chương trình học chuyên ngành, sinh viên sẽ có 2 đợt thực tập:
     - Thực tập thực tế chuyên ngành
     - Thực tập tốt nghiệp
          Do đặc thù của chuyên ngành,  tất cả SV của Bộ môn đều được yêu cầu làm khóa luận hoặc đồ án trước khi tốt nghiệp. Đây là cơ hội để sinh viên vận dụng kiến thức, kỹ năng, nâng cao khả năng tư duy, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề một cách độc lập và sáng tạo. 
          -  Khoá luận tốt nghiệp (10TC): dành cho những sinh viên đạt kết quả học tập Khá (điểm tích lũy đến HK 6 > 7.5) và đạt các yêu cầu theo quy định của Khoa (xem quy trình )
          -  Đồ án tốt nghiệp (5TC): dành cho các SV không làm khóa luận. Đồ án tốt nghiệp có yêu cầu và quy mô đơn giản hơn Khóa luận, được quy đổi thành 5TC, do đó, SV sẽ cần chọn và học bổ sung thêm 5 tín chỉ (2 môn học)


Thuận lợi và khó khăn cho thu nhận thông tin tài nguyên môi trường

Ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, thì vấn đề thu nhận thông tin về tài nguyên môi trường luôn có những thuận lợi và khó khăn nhất định.

Ở Việt Nam việc thu nhận thông tin trong các vấn đề về tài nguyên môi trường chủ yếu là sử dụng công nghệ Viễn Thám. Những tổ chức tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực viễn thám ở Việt Nam đã thu thập được nhiều dữ liệu viễn thám từ nhiều nguồn khác nhau với những thời điểm khác nhau và đa dạng về loại ảnh. Tuy nhiên, ảnh viễn thám có độ phân giải thấp và trung bình chỉ phục vụ trong nghiên cứu và ứng dụng đòi hỏi mức độ chi tiết trung bình. Ảnh có độ phân giải không gian cao còn ít, nhưng ngày càng được đầu tư và ứng dụng nhiều, tuy nhiên việc trích lọc, phân loại thông tin từ những phương pháp cũ đã thể hiện nhiều vấn đề gây khó khăn trong phân loại các đối tượng, v.v. 

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ
Việc phát triển khoa học công nghệ đã đưa ra những thiết bị, công cụ, v.v, hổ trợ việc điều tra, kiểm tra, tìm kiếm, v.v, thông tin tài nguyên môi trường một cách nhanh chóng, chính xác, giảm bớt thời gian tìm kiếm, phân tích thông tin. Tuy nhiên, việc thu nhận thông tin vẫn gặp không ít khó khăn về khả năng của thiết bị (phụ thuộc vào thời tiết, địa hình) dẫn đến độ chính xác và tin cậy của thông tin.
Những thuận lợi cơ bản về thu nhận thông tin tài nguyên môi trường:
Với ảnh viễn thám (độ phân giải thấp và trung bình): dữ liệu truyền từ vệ tinh không chỉ ảnh viễn thám đơn thuần mà chứa nhiều thông tin hổ trợ khác (nhiệt độ, thông số kỹ thuật, v.v. ). Tất cả các dữ liệu được truyền dưới dạng số PCM (Pulse Code Modulation) nên có ưu thế hơn hẳn các phương pháp truyền khác vì nó cho phép loại bỏ mọi nhiễu, năng lượng tiêu thụ cho việc phát sóng cũng rất nhỏ.
Viễn thám rada (siêu cao tần): viễn thám rada (siêu cao tần) sử dụng bức xạ siêu cao tần với bước sóng từ một cho đến vài chục centimet cho phép quan sát vật thể trong mọi thời điểm trong ngày và không bị ảnh hưởng bởi các điều kiện thời tiết như mây hay mưa, v.v.  Ngoài ra, kỹ thuật viễn thám rada còn cho phép cung cấp những thông tin hữu ích về gió trên mặt biển, hướng sóng.

Những khó khăn trong việc thu nhận thông tin tài nguyên môi trường
Ảnh viễn thám: chỉ thực hiện được khi trạn thu và vệ tinh viễn thám nằm trong tầm nhìn của nhau. Phụ thuộc thuộc vào điều kiện thời tiết, v.v. 

Viễn thám rada (siêu cao tần): đồi hỏi nguồn năng lượng lớn, chi phí cao, v.v. 


Nguồn: Trần Chí Tình

25 thg 1, 2014

Ứng dụng ArcGIS trong quản lý tình trạng khẩn cấp

Phát triển và chia sẻ kế hoạch ứng phó, duy trì hoạt động nâng cao nhận thức trong sự cố khẩn cấp và các sự kiện, và nâng cao hiệu quả và độ chính xác của những nỗ lực phục hồi
Bản đồ kế hoạch hành động
Bản đồ quản lý khẩn cấp cung cấp một tập hợp các dữ liệu bản đồ và các tập tin liên quan để sử dụng trong sản xuất bản đồ quản lý khẩn cấp. Bản đồ này giúp quản lý tình trạng khẩn cấp và nhân viên an ninh tạo ra một bộ tiêu chuẩn của bản đồ được sử dụng trong các hoạt động thông báo và phản hồi. Một số vụ việc dựa trên dữ liệu bản đồ đã được phát triển bằng cách sử dụng thông số kỹ thuật từ các tiêu chuẩn phân tích GIS hoạt động trên sự cố (GSTOP) và được phân phối bởi NWCG.

Bản đồ quản lý tình trạng khẩn cấp cung cấp bốn sản phẩm bản đồ bao gồm:
- Lên kế hoạch hành động có thể xảy ra – xuất bản một bản đồ từ 8.5 đến 11 in để sử dụng hỗ trợ hoạt động cho các hoạt động hỗ trợ, nhân sự và bổ sung cho kế hoạch hành động trên trang chính bản đồ.

- Kế hoạch hành động trên bản đồ giấy - phát triển với trang dữ liệu Driven với tỉ lệ 1: 1000 theo hệ tọa độ quốc gia Mỹ (USNG).

- Tóm tắt vụ việc Bản đồ - Một bản đồ điện tử có kích thước chuẩn ANSI với các chi tiết về sự kiện cụ thể và khu vực xung quanh.

- Bản đồ nguy hiểm - Hiển thị các mối nguy hiểm tự nhiên và công nghệ trọng điểm trong thành phố Naperville, Illinois. Đây là một ví dụ về một bản đồ quy hoạch và phân tích  có thể được tăng cường để phân tích tốt hơn các dữ liệu để hỗ trợ lập kế hoạch và giảm nhẹ những sự c tiếp theo.

Nguồn: www.esri.com

Khoa học Địa lý Việt Nam - Cơ hội và thách thức

Khoa học địa lý là một trong những khoa học cổ xưa nhất thế giới gắn liền với nhận thức, hiểu biết không gian lãnh thổ của loài người. Những phát kiến khoa học vĩ đại đầu tiên của nhân loại là về đất nước và các châu lục. Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn cuộc sống, khoa học địa lý không ngừng hoàn thiện lý luận, quan điểm và phương pháp luận.
 
Phát triển khoa học địa lý
Trên con đường phát triển khoa học địa lý có lúc thăng trầm vượt qua những thách thức và cơ hội để đạt được những thành tựu, những di sản quí báu cho toàn nhân loại. Thông qua tìm hiểu lịch sử phát triển khoa học địa lý nói chung và địa lý Việt Nam nói riêng là công việc đầy khó khăn song hết sức cần thiết. Bởi lẽ con đường phát triển khoa học địa lý rất dài và rộng theo thời gian và không gian, cần phải nhận thức sâu sắc những chặng đường gắn với những học thuyết, quan điểm, phương pháp địa lý. Qua đó kế thừa những thành tựu khoa học địa lý trong quá khứ từ các học thuyết về vũ trụ, trái đất đến các qui luật địa đới toàn cầu và phi địa đới khu vực. Từ những vấn đề học thuyết, lý thuyết đến các mô hình ứng dụng, địa lý thế giới đã đi từ địa lý bộ phận đến địa lý tổng hợp và hình thành các trường phái ứng dụng khác nhau.
Khoa học địa lý Việt Nam cũng có tiến trình lịch sử phát triển riêng và chung với thế giới. Trong đó, từ thế kỷ 20 khoa học địa lý Việt Nam đã có bước hội nhập lớn với thế giới. Sự du nhập các trường phái địa lý Âu – Mỹ đã tạo động lực phát triển địa lý Việt Nam thoát khỏi địa lý Cổ Trung Hoa. Đồng thời đã tạo nên nền tảng của địa lý hiện đại. Sự ra đời của nhiều tổ chức nghiên cứu, đào tạo khoa học địa lý Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 20 đã đáp ứng kịp thời công cuộc phát triển đất nước. Song bước vào thiên niên kỷ thứ 3, những biến động mang tính toàn cầu cả về tự nhiên và kinh tế - xã hội đang là những thách thức đối với các nhà địa lý Việt Nam.

VÀI NÉT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN ĐỊA LÝ THẾ GIỚI VÀ CÁC TRƯỜNG PHÁI

Địa lý thế giới đã trải qua các thời kỳ cổ đại, trung cổ, phục hưng, tiền Tư bản (thế kỷ 17 – 18) và Tư bản Chủ nghĩa từ thế kỷ 19 đến 20. Thực chất địa lý mới trở thành khoa học thực sự với những học thuyết, những khái niệm phương pháp riêng từ cuối thế kỷ 19.
Thời kỳ địa lý cổ đại được đánh dấu bằng công trình của Herodote từ thế kỷ thứ V trước công nguyên (TCN) và đến thế kỷ thứ IV sau công nguyên (SCN), khi đế chế La mã sụp đổ vào năm 395. Thành tựu chính của địa lý cổ đại là đã khẳng định trái đất hình tròn của trường phái Pythagore thế kỷ V TCN và tính địa đới căn cứ vào bóng của Trái đất trên mặt trăng vào lúc nguyệt thực. Đặc biệt vào thế kỷ thứ III các đo đạc Trái đất, xác định phương hướng và vị trí địa lý, đồng thời mô tả các quyển của trái đất như thạch quyển, khí quyển, khiến cho địa lý học đã mang tính định lượng bằng sử dụng toán học, thiên văn học. Đầu công nguyên hướng địa lý nhân văn đã được chú ý. Tồn tại lớn nhất của thời kỳ này là thuyết “Trái đất là trung tâm của thế giới và là một vật thể tĩnh tại, đứng yên không quay” của Ptôlêmê thế kỷ II (SCN).
Thời kỳ Trung Cổ bắt đầu từ năm đế chế La Mã sụp đổ (395 SCN) và kéo dài 1058 năm cho đến khi vua Thổ Nhĩ Kỳ Mohamét II chiếm lĩnh được Constantinophe vào năm 1453 SCN. Thời kỳ Trung cổ là thời kỳ suy thoái của khoa học địa lý nói riêng và nền khoa học nhân loại nói chung do những ràng buộc khắc nghiệt của nhà thờ thiên chúa giáo lúc đó. Trái đất được coi là phẳng hay có dạng đĩa phẳng.
Thời kỳ phục hưng từ thế kỷ XV- XVI, địa lý được đánh dấu bởi các “đại phát kiến” đi bằng đường biển trên các thuyền buồm lớn. Đại phát kiến thứ nhất là sự tìm ra châu Mỹ của Chriptople Colomb (1451-1506) người Ý. Đại phát kiến thứ 2 là chuyến đi vòng quanh châu Phi qua mũi Hảo Vọng để tới Ấn Độ do Vasco de Gama (1469 – 1524) người Bồ Đào Nha thực hiện năm 1498. Đại phát kiến thứ 3 là chuyến đi vòng quanh thế giới trong 3 năm (1519 – 1522) của Magellan (1470-1521) người Bồ Đào Nha làm việc cho vua Tây Ban Nha. Về mặt khoa học địa lý giai đoạn phục hưng đã phát triển và mở rộng các thành tựu địa lý cổ đại nhưtrái đất hình cầu, tính địa đới của khí hậu, quan hệ giữa khí hậu và sinh vật cũng như sinh hoạt của con người…Những phát kiến về đới gió về sự thông nhau của các đại dương và phát hiện các châu lục…. Thành tựu của địa lý thời phục hưng là sự ra đời và phát triển trường phái bản đồ địa lý Hà Lan Meccato với quả địa cầu đầu tiên hoàn thành năm 1492 và tập bản đồ đầu tiên xuất bản năm 1570 gồm 53 bản đồ in từ các bản khắc đồng, tô màu bằng tay qua tham khảo tài liệu của 87 nhà địa lý và bản đồ học.
Thời kỳ tư bản chủ nghĩa được bắt đầu từ thế kỷ XVII – XVIII với sự bùng nổ cách mạng khoa học. Các ứng dụng nghiên cứu; đo lường như phong vũ biểu, hàn thử biểu, kính viễn vọng, máy kinh vĩ… đã giúp cho khoa học địa lý quan sát không gian và vẽ bản đồ chính xác hơn. Người đặt nền móng cho địa lý học hiện đại là nhà triết học kiêm nhà địa lý học người Đức Emmanuel Kant (1924-1804) coi “địa lý là sự mô tả theo không gian” và nhà bác học Viện hàn lâm khoa học Nga (nhà tự nhiên học) M.V.lômônôxôp (1711-1765) với dự án nghiên cứu khai thác Bắc cực và vẽ bản đồ nước Nga. Bản đồ học được phát triển ở nhiều nước châu Âu và châu Mỹ. Địa lý học đã được tổ chức nghiên cứu, đào tạo có tính chuyên nghiệp ở nhiều nước. Song sự phát triển khoa học địa lý cổ điển thống nhất có đối tượng, phương pháp nghiên cứu chung đã dẫn đến phân rã thành các phân ngành địa lý trong thế kỷ 19. Hai phân ngành chính là nhóm các khoa học địa lý tự nhiên và nhóm các khoa học địa lý kinh tế xã hội. Sự phân ngành của địa lý dần cũng bộc lộ những nhược điểm, được kiểm nghiệm sau những những thất bại khi tiến hành các công trình phát triển kinh tế xã hội hoặc cải tạo tự nhiên ở qui mô lớn. Do vậy sau thế kỷ 20 địa lý thống nhất hiện đại (địa lý tự nhiên tổng hợp) đã lại được khẳng định. Thành tựu của địa lý thế kỷ XIX là khoa học địa lý đã được giảng dạy ở nhiều trường đại học nổi tiếng của châu Âu; Các nước Đức, Pháp, Nga, Anh… đã sớm thành lập Hội địa lý. Hội nghị địa lý quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Angve (Anvers) Bỉ vào năm 1871. Ba khuynh hướng nghiên cứu địa lý chính xuất hiện đó lànghiên cứu vùng, nghiên cứu quan hệ con người, môi trường địa lý và khuynh hướng nghiên cứu cảnh quan. Đồng thời với sự phát triển về lý thuyết, hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu, khoa học địa lý thế giới đã ra đời các trường phái địa lý thế kỷ XX. Như trường phái địa lý Đức, Pháp, Nga, Mỹ. Trường phái địa lý Mỹ hình thành muộn vào đầu thế kỷ XX, nhưng được phát triển nhanh, nhạy bén; có tính thực dụng thiên về phương pháp định lượng chính xác, sử dụng công cụ toán học và thực nghiệm trên thực địa tỷ lệ lớn.
Đến cuối thế kỷ XX với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học như khoa học thông tin, khoa học vũ trụ, máy tính…và sức ép phát triển kinh tế xã hội, thế giới theo xu hướng toàn cầu hoá đã làm thay đổi cơ bản khoa học địa lý, sự bùng nổ hệ thống thông tin địa lý. Xu hướng thống nhất phương pháp luận và phương pháp chung, nhất thể hoá đối tượng của địa lý học là tổng hợp thể lãnh thổ thống nhất tự nhiên – kinh tế - xã hội – nhân văn đã và đang phát triển. Sự biến đổi khí hậu toàn cầu, tài nguyên môi trường dẫn đến thiên tai rộng khắp và bùng nổ dân số thế giới với các mối quan hệ kinh tế liên, xuyên quốc gia đã làm thay đổi không chỉ hệ thống qui luật tự nhiên mà cả hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội thế giới. Chính vì vậy địa lý thống nhất tự nhiên - kinh tế - xã hội – nhân văn hiện đại ra đời là kết quả tất yếu của khoa học địa lý vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của khoa học địa lý thế giới đang ảnh hưởng tới mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Cơ hội và thách thức của khoa học địa lý

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA ĐỊA LÝ VIỆT NAM TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ 21

 Địa lý Việt Nam qua tóm lược lịch sử đã có một bước tiến dài trong nửa cuối của thế kỳ 20. Cùng với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập chủ quyền đất nước, khoa học địa lý đã nhanh chóng bứt phá khỏi địa lý cổ điển, hội nhập với địa lý hiện đại; đồng thời từ một nền khoa học địa lý lệ thuộc (chủ yếu do các nhà địa lý nước ngoài thực hiện) đến một nền khoa học địa lý tự chủ, có sắc thái riêng phục vụ đất nước phát triển kinh tế xã hội. Ngoài ra các công trình địa lý đồ sộ như “Atlat quốc gia Việt Nam”, “Thiên nhiên Việt Nam”, “Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý”, “Địa lý tự nhiên Việt Nam”,… của các nhà địa lý Việt Nam. Dưới góc độ văn hoá các công trình địa lý đã “vẽ được những đường nét của văn hoá Việt Nam ở các vùng miền khác nhau và chỉ ra được sự vận động của văn hoá trong không gian”. Với lực lượng hàng chục ngàn cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ địa lý trong các cơ quan đào tạo và nghiên cứu địa lý, cơ quan quản lý nhà nước ở khắp mọi miền đất nước là một thuận lợi lớn của khoa học địa lý Việt Nam. Sau một thập niên đầu của thế kỷ 21, cho thấy địa lý Việt Nam đang có nhiều cơ hội và thách thức lớn lao qua tham chiếu lịch sử phát triển cũng như nội lực, ngoại lực của khoa học địa lý nước nhà.
Những cơ hội
- Quá trình công nghiệp hoá đi đôi với đô thị hoá và gắn liền với khai thác tài nguyên môi trường. Quá trình đó làm chuyển dịch toàn bộ hệ thống kinh tế xã hội và cả hệ thống tự nhiên hết sức phức tạp. Chỉ có thể trên quan điểm địa lý tổng hợp nghiên cứu những luận cứ khoa học phục vụ chiến lược phát triển bền vững đất nước. Sự quan tâm của nhà nước và xã hội đối với những vấn đề địa lý – môi trường đang là một cơ hội lớn.
- Nước ta có một vùng biển và hải đảo lớn gấp 2 lần đất liền với một dải bờ biển dài trên 3200km đang được đánh thức để trở thành Quốc gia biển. Khoa học địa lý là khoa học không gian và lãnh thổ. Bởi vậy nghiên cứu khai thác hợp lý tài nguyên và quản lý bền vững biển đảo là trách nhiệm và cũng là cơ hội của địa lý Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 21.
- Khoa học địa lý có cơ hội tiếp thu trao đổi những tri thức địa lý với toàn thế giới. Các hợp tác quốc tế về đào tạo, trao đổi khoa học và nghiên cứu địa lý của các nhà địa lý Việt Nam đã thể hiện điều đó. Sự hợp tác ngày càng sâu rộng trong khu vực và ngoài khu vực, cả trong các tổ chức chính phủ và tổ chức phi chính phủ.
- Làn sóng toàn cầu hoá tiếp tục diễn ra nhanh, lan rộng tới nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) không chỉ làm gia tăng các dòng thương mại, tài chính mà còn đưa các tiến bộ công nghệ tạo điều kiện thuận lợi trao đổi các ý tưởng và phát triển khoa học. Thời gian để thăm dò thám hiểm tài nguyên môi trường địa lý được rút ngắn tối thiểu. Công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin, khoa học tính toán… đã thúc đẩy sử dụng hiệu quả hệ thông tin địa lý GIS, giải những bài toán phức tạp về thiên nhiên môi trường.
- Vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với địa lý Việt Nam là những biến đổi toàn cầu về thiên nhiên môi trường như biến đổi khí hậu, sa mạc hoá, hoạt hoá núi lửa, động đất, sóng thần, nước biển dâng, bão, lũ… đang đưa toàn thế giới xích lại gần nhau hơn để bảo vệ “ngôi nhà chung – Trái Đất”. Địa lý Việt Nam đã và đang được tham gia phối hợp quốc tế vì mục tiêu cao cả này.
 Những thách thức
 - Địa lý Việt Nam hiện có một lực lượng đông song năng lực còn hạn chế và chưa có những cánh chim đầu đàn thay thế lớp các nhà địa lý già đã ngừng hoạt động do sự hẫng hụt thế hệ kế tục do lịch sử để lại.
- Trong một thời gian dài, địa lý Việt Nam phát triển chia nhỏ theo khuynh hướng địa lý bộ phận (dễ làm, dễ thuyết minh) bởi vậy địa lý tổng hợp kém phát triển, địa lý kinh tế xã hội còn ít được quan tâm. Đầu thế kỷ 21 những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam và toàn cầu là hướng phát triển bền vững. Do vậy cần đứng trên quan điểm địa lý tổng hợp và địa lý kinh tế xã hội nhân văn. Từ các trường phái địa lý trên thế giới, khoa học địa lý Việt Nam cần lựa chọn trường phái hợp lý, có vậy mới tập hợp được lực lượng và hội tụ được năng lực để tiến hành các công trình lớn tầm cỡ vùng miền, quốc gia và khu vực.
- Thách thức lớn nhất của địa lý Việt Nam là cơ sở vật chất, tạo ra năng lực sáng tạo trước những biến cố lớn của thế giới và những nhiệm vụ lớn của đất nước. Định lượng hoá trong nghiên cứu địa lý là nhiệm vụ tất yếu. Song mức độ chính xác đòi hỏi ngày càng cao để có thể cảnh báo, dự báo thiên tai và tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế. Địa lý Việt Nam cần được trang bị các công cụ hiện đại, phòng thí nghiệm và trạm trại nghiên cứu để giải quyết các bài toán về ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, sức ép gia tăng dân số, suy thoái tài nguyên môi trường, thiên tai sa mạc hoá. Khoa học địa lý Việt Nam không thể phát triển mạnh, nghiên cứu phục vụ đất nước nếu không được đầu tư thích đáng.
    Những cơ hội và thách thức trên đặt ra cho khoa học địa lý Việt Nam cần phải xem xét lại các luận điểm và phương pháp tiếp cận vấn đề để có sự thống nhất trong đa dạng.

 KẾT LUẬN

    Lịch sử phát triển khoa học địa lý thế giới và địa lý Việt Nam có sự tương đồng từ sự ra đời sớm địa lý cổ điển đến địa lý hiện đại tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến. Đồng thời trong quá trình lịch sử khoa học địa lý có những bước thăng trầm, thử thách.Khoa học địa lý Việt Nam mới thực sự phát triển trở thành khoa học hiện đại từ nửa cuối của thế kỷ 20. Những thành tựu của khoa học địa lý Việt Nam là rất đáng ghi nhận song còn chậm so với thế giới và so với một số ngành khoa học khác của đất nước. Bước vào thế kỷ 21, nhiều biến động về tự nhiên và kinh tế xã hội mang tính toàn cầu. Đồng thời trước nhu cầu phát triển của đất nước khoa học địa lý đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Địa lý Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển vượt qua các thách thức trong thế kỷ 21 để vươn tới các thành tựu mới đóng góp cho khoa học và xây dựng, bảo vệ tổ quốc.
----------

PBV. lược trích từ “Địa lý Việt Nam - Cơ hội và thách thức trong nửa đầu thế kỷ 21”
Tác giả : Nguyễn Đình Kỳ, Nguyễn Trần Cầu (Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), xem chi tiết tại trang web:
http://vast.ac.vn/file/2_%20Dia%20ly%20VN%20co%20hoi%20va%20thach%20thuc.doc




Trích từ: Khoa Địa lý - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn