Hiển thị các bài đăng có nhãn Ứng-dụng-GIS. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ứng-dụng-GIS. Hiển thị tất cả bài đăng

15 thg 9, 2014

GIS sẽ ra sao nếu dữ liệu không đáng tin cậy?

Khó khăn lớn nhất, khó vượt qua nhất trong việc phát triển và ứng dụng GIS là sự thiếu hợp tác của các tổ chức và cá nhân được giao trách nhiệm nắm giữ các loại thông tin, dữ liệu. GIS sẽ ra sao nếu không đủ thông tin, nếu dữ liệu không đáng tin cậy?


Tầm quan trong của Dữ liệu trong GIS
Tầm quan trong của Dữ liệu trong GIS
Gần đây liên tiếp có những tín hiệu vui với những người quan tâm đến sự phát triển và ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (geographical information system - GIS) từ các địa phương.

Tỉnh miền núi Lào Cai đã mạnh dạn đầu tư xây dựng 888 bản đồ điện tử một cách đồng bộ, thống nhất ở ba cấp tỉnh, huyện, xã bằng công nghệ GIS và đưa các sản phẩm này lên internet nhằm chia sẻ rộng rãi cho các đối tượng và mục đích sử dụng khác nhau. Thành công của Lào Cai sẽ kích thích các tỉnh, thành phố chọn lựa để triển khai những ứng dụng phù hợp với điều kiện của địa phương từ rất nhiều ứng dụng của GIS.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ một đề tài KHCN cấp nhà nước hỗ trợ cho các địa phương xây dựng 14 lớp bản đồ số hóa, đến các dự án quốc tế hỗ trợ kỹ thuật cho các ngành, các địa phương ở nước ta, dù ở lĩnh vực nào, cũng thường có nội dung liên quan đến GIS. Mức độ thành công của đề tài cấp nhà nước về GIS và nội dung liên quan đến GIS của các dự án quốc tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng đóng góp đáng ghi nhận nhất của chúng là ảnh hưởng tích cực đến nhận thức về tầm quan trọng của GIS và khả năng ứng dụng tuyệt vời của nó.

Hàng trăm công trình nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã được triển khai thực hiện, được báo cáo ở 13 hội thảo khoa học về GIS hằng năm tại TP Hồ Chí Minh với tên gọi rất ấn tượng là GISNet - mạng lưới GIS. Một số dự án ứng dụng GIS đã có những thành công như ở UBND quận Gò Vấp, Sở Khoa học và Công nghệ (KH và CN) Ðồng Nai, UBND TP Ðà Lạt, Sở Y tế Quảng Trị, Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Ngãi... Các ứng dụng GIS được triển khai ở tất cả các lĩnh vực: giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường (thí dụ, giám sát sự biến động đa dạng sinh học bằng cách kết hợp các dữ liệu viễn thám và quan sát của cộng đồng trong dự án Hành lang xanh, tỉnh Thừa Thiên - Huế), phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp và nông thôn (trồng trọt, phòng trừ dịch bệnh), phát triển du lịch, quản lý đô thị (thí dụ điển hình là quận Gò Vấp với mục tiêu đẩy tham vọng "quản lý từng căn nhà, từng hộ gia đình" trong quận), quản lý quy hoạch và đầu tư, quy hoạch nuôi trồng thủy sản (dự án Quản lý tổng hợp các hoạt động trên đầm phá (IMOLA), tỉnh Thừa Thiên - Huế).

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển và ứng dụng GIS ở Việt Nam, giới làm GIS và các địa phương đang gặp những khó khăn từ nhiều phía, có cả những khó khăn do chính họ tạo ra.

Khó khăn thứ nhất là vẫn chưa có một định hướng chiến lược, một chương trình tổng thể về phát triển và ứng dụng GIS của quốc gia và các địa phương.

Khó khăn thứ hai là, đến nay, trong CNTT nói chung và GIS nói riêng, Nhà nước chưa ban hành các loại chuẩn, bao gồm các chuẩn thông tin, dữ liệu và quy trình và không có quy định buộc phải áp dụng chuẩn. Mà thiếu chuẩn thì thông tin, dữ liệu không thể tích hợp, trao đổi và chia sẻ, các bản đồ không thể ghép nối được với nhau. Mới đây có thông tin rằng 95% các mảnh bản đồ GIS của TP Hồ Chí Minh không ghép nối được với nhau. Thông tin, dữ liệu nếu không được tích hợp thì sẽ ít giá trị gia tăng; nếu không được trao đổi và chia sẻ cũng có nghĩa là ít người được sử dụng thì vô cùng lãng phí và kém giá trị. Vì vậy rất cần có tiếp cận đúng về chia sẻ thông tin. Nhận thức của thời đại ngày nay về thông tin là nguồn lực cho phát triển và là tài sản của xã hội, cần được dùng chung,  phải được tuyên truyền phổ biến và luật hóa để nó trở thành nhận thức chung của toàn xã hội.

Khó khăn thứ ba là trong mục tiêu của chương trình công nghệ thông tin từ cấp quốc gia đến các ngành, các cấp, các hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, được xây dựng theo chuẩn thống nhất, phù hợp với chuẩn quốc tế nhằm chia sẻ, trao đổi được trong phạm vi quốc gia và quốc tế, tích hợp được vào hệ thống chung toàn quốc chưa được chú trọng. Các trang thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước ít người truy cập vì người ta tìm thấy ở đó ít thông tin hữu ích, cập nhật. Ðến nay, vẫn chưa có quy định nào của Nhà  nước về xây dựng, cập nhật, nâng cấp, sử dụng và quản lý các cơ sở dữ liệu tổng hợp và chuyên ngành Luật CNTT có quy định về việc giao cho các bộ, ngành (Ðiều 58) hoặc các tỉnh/thành phố (Ðiều 59) các nhiệm vụ này. Nhưng bao giờ các nhiệm vụ đó phải được thực hiện và hoàn thành thì không được quy định.

Khó khăn lớn nhất, khó vượt qua nhất trong việc phát triển và ứng dụng GIS là sự thiếu hợp tác của các tổ chức và cá nhân được giao trách nhiệm nắm giữ các loại thông tin, dữ liệu. GIS sẽ ra sao nếu không đủ thông tin, nếu dữ liệu không đáng tin cậy? Các tổ chức làm GIS chưa được tập hợp lại thành một tổ chức đủ mạnh, đủ năng lực làm được những việc có quy mô và tầm ảnh hưởng lớn. Ít người nghĩ đến việc trao đổi, chia sẻ và tích hợp các dữ liệu và xây dựng những hệ thống thông tin quốc gia hoặc địa phương.

Rõ ràng là, để khắc phục những khó khăn trên, để phát triển GIS trong phạm vi toàn quốc, phạm vi một ngành hoặc địa phương hay chỉ để xây dựng và thực hiện một dự án GIS, cần có cách tiếp cận hệ thống. Rất may mắn là dự án Xây dựng hệ thống thông tin địa lý của tỉnh Thừa Thiên - Huế (được gọi gắt là dự án GISHue) về cơ bản đã tuân theo cách tiếp cận này nên đã thu được những thành công bước đầu.

Về bản chất GIS là một hệ thống. Hệ thống ở đây được hiểu là tập hợp của nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, làm thành một thể thống nhất, đồng thời còn được hiểu là phương pháp, cách thức phân loại, sắp xếp các yếu tố đó một cách trật tự, logic. Các yếu tố cấu thành GIS là phần cứng, phần mềm, các cơ sở dữ liệu, quy tắc vận hành hệ thống và con người. Trong các yếu tố này, các cơ sở dữ liệu có vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống, làm nên sức mạnh của hệ thống, thông thường chiếm đến ba phần tư thời gian, công sức và tiền bạc của một dự án GIS, nhưng lại chưa thật sự được quan tâm. Quy tắc vận hành, bao gồm các quy chuẩn kỹ thuật và quy tắc hành chính là cần thiết cho bất kỳ một hệ thống nào hoạt động trơn tru, hiệu quả, nhưng thật đáng tiếc là hầu hết các dự án GIS hiện nay ở Việt Nam đang bỏ qua thành phần quan trọng này. Có thể, khi xây dựng và quyết định đầu tư một dự án GIS chúng ta chưa chú ý đến việc phối hợp các mục tiêu, hướng đến các đối tượng tiềm năng sẽ hưởng thụ thành quả dự án thông qua việc chia sẻ và trao đổi thông tin liên ngành với quốc gia, quốc tế. Nếu chú ý đến mục tiêu đó, thì tự nhiên phải quan tâm đến việc khớp nối, liên kết các cơ sở dữ liệu được xây dựng một cách độc lập bởi một bộ chuẩn đầy đủ.

GIS và các ứng dụng của nó đang phát triển nhanh chóng. Ðó là các dịch vụ kết hợp GIS với hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để hiển thị vị trí nhà hàng, khách sạn, tìm đường... được cài vào các thiết bị cầm tay, các ứng dụng bản đồ trên web cho phép tạo lập các ứng dụng của riêng mình, các nghiên cứu sự biến động của các quá trình trên trái đất theo thời gian và tác động của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng... đang rất cần được phát triển đúng hướng.

Những gì chúng tôi mạo muộn gọi là "cách tiếp cận" không có gì mới so với thế giới, nhưng là mới ở nước ta, vì chúng ta có những điều kiện khách quan và chủ quan riêng có, nên chưa thực hiện được. Hy vọng rằng với tinh thần hội nhập, chúng ta cũng sẽ hội nhập cả về cách làm, để GIS của nước ta không còn là những kết quả đơn lẻ, phân tán, không thể tập hợp lại thành hệ thống như chính tên gọi của nó.


Nguồn: DATAGIS

5 thg 8, 2014

Geodatabase: kiến trúc và thành phần trong Geodatabase

1. Geodatabase là gì?
Geodatabase là một kho chứa dữ liệu không gian và thuộc tính trong hệ quản trị cơ sở dữ liệu (Database Management System - DBMS).
Database Management System – DBMS là:
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu  là phần mềm hay hệ thống được thiết kế để quản trị một cơ sở dữ liệu.
 Hỗ trợ khả năng lưu trữ, sửa chữa, xóa và tìm kiếm thông tin trong một cơ sở dữ liệu (CSDL).
Ví dụ: 
- ArcCatalog cung cấp một cái nhìn tổng hợp và thống nhất của tất cả các tập tin dliệu, cơ sở dữ liệu.
- ArcCatalog là chương trình bạn sử dụng để tổ chức và quản lý các bộ dữ liệu khác nhau và các tài liệu trong cả hai tập tin không gian làm việc dựa vào geodatabases
- Các ứng dụng ArcCatalog cung cấp các công cụ cần thiết:
+ Duyệt và tìm thấy thông tin địa lý
+ Ghi lại, xem, và quản lý siêu dữ liệu
+ Xác định, xuất khẩu, nhập khẩu mô hình dữ liệu cơ sở dữ liệu địa lý và tập hợp dữ liệu.

2. Kiến trúc của một Geodatabase.
2.1. Kiến trúc của Geodatabase
- Là một mô hình thông tin toàn diện
+ Các bảng dữ liệu
+ Dữ liệu raster
+ Các thuộc tính
- Làm việc trên các dạng dữ liệu:
+ Shapefile, các tập tin CAD​​, Tins, lưới, CAD dữ liệu,
+ Hình ảnh, các tập tin GML, và các nguồn khác rất nhiều dữ liệu GIS.

2.2. Geodatabase lưu trữ dựa trên các nguyên tắc quan hệ
Các mô hình geodatabase lưu trữ dựa trên các DBMS

Nguyên tắc tận dụng một loạt các quan hệ đơn giản nhưng cần thiết.

Dữ liệu được tổ chức vào các bảng.

2.3. Các mối quan hệ trong Geodatabase
- Cơ sở dữ liệu địa lý sử dụng một kiến ​​trúc ứng dụng nhiều tầng .
- Các ứng dụng logic geodatabase bao gồm hỗ trợ cho một loạt các đối tượng dữ liệu GIS có đặc điểm chung
Ví dụ: các lớp thuộc tính, dữ liệu raster, cấu trúc liên kết, mạng lưới, định vị địa chỉ, và nhiều hơn nữa.

2.4. Quản lý chuyển đổi trong Geodatabase
- Người dùng có thể chuyển đổi của DBMS khuôn khổ quản lý chỉnh sửa và cập nhật để geodatabases.
- Công việc này mất nhiều thời gian và xuyên suốt
- Trong hầu hết trường hợp, chúng được thực hiện thông qua việc sử dụng một DBMS đa người dùng và ArcSDE để quản lý các bản cập nhật cơ sở dữ liệu GIS trung tâm bằng cách sử dụng versioning.
- Làm cá nhân > trao đổi với nhau > tìm và giải quyết xung đột
- Mô hình chuyển đổi cơ sở dữ liệu địa lý dựa trên các phiên bản tương đối đơn giản, các cập nhật được ghi lại trong các bảng . Có thể là: Thêm bảng, xóa bảng…
- Trong quá trình cập nhập, chỉnh sửa thì người dùng vẫn dùng phiên bản mặc định.

2.5. Geodatabase XML
- Geodatabase XML đại diện cho cơ chế mở của ESRI để trao đổi thông tin giữa các geodatabases và các hệ thống bên ngoài khác. 
- Người dùng có thể chia sẻ cập nhật dữ liệu giữa các hệ thống không đồng nhất.
- Trao đổi của bộ tính năng đơn giản (giống như trao đổi file shapefile )
- Có ba loại tài liệu XML có thể được tạo ra trong ArcGIS: một tài liệu không gian làm việc, tài liệu RecordSet, và  tài liệu về các thay đổi của dữ liệu.
- Một số công việc điển hình mà người dùng thực hiện trong ArcGIS geodatabase XML bao gồm:
                + Chia sẻ lược đồ cơ sở dữ liệu địa lý.
                + Sao chép geodatabases toàn bộ hoặc một tập hợp con như tập hợp dữ liệu tính năng và tập hợp tất cả các thông tin liên quan .
                + Đồng bộ hóa các nội dung trên nhiều bản sao cơ sở dữ liệu địa lý
- Ví dụ: bằng cách sử dụng ArcCatalog, bạn có thể phải nhấp chuột vào một tập dữ liệu hoặc thuộc tính cơ sở dữ liệu địa lý và tạo ra một tài liệu XML Workspace.

2.6. Hệ cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu (viết tắt CSDL; tiếng Anh là database)
- Định nghĩa kiểu kĩ thuật thì nó là một tập hợp thông tin có cấu trúc.
- Là nơi tổ chức và phân loại các thông tin rời rạc thành một hệ thống có thứ tự, theo từng mục một.
- Một CSDL thường bao gồm một hoặc nhiều bảng (table). Mỗi bảng được xác định thông qua một tên. Bảng chứa các mẩu tin - dòng (record - row), là dữ liệu của bảng.
- Ví dụ: Thông tin về một khách hàng:
dữ liệu của bảng.
Dữ liệu của bảng.

Khung nhìn

- Khung nhìn là một bảng tạm thời, có cấu trúc như một bảng
- Khung nhìn không lưu trữ dữ liệu mà nó được tạo ra khi sử dụng, khung nhìn là đối tượng thuộc CSDL.
- Khung nhìn được tạo ra từ câu lệnh truy vấn dữ liệu (lệnh SELECT), truy vấn từ một hoặc nhiều bảng dữ liệu.
- Khung nhìn được sử dụng khai thác dữ liệu như một bảng dữ liệu, chia s nhiều người dùng, an toàn trong khai thác, không ảnh hưởng dữ liệu gốc. 
- Có thể thực hiện truy vấn dữ liệu trên cấu trúc của khung nhìn
- Ví dụ: Một khung nhìn được tạo ra trong SQL bằng câu lệnh truy vấn Select:

- Như vậy, một khung nhìn trông giống như một bảng với một tên khung nhìn và là một tập bao gồm các dòng và các cột.
Điểm khác biệt giữa khung nhìn và bảng là:
- Khung nhìn không được xem là một cấu trúc lưu trữ dữ liệu tồn tại trong cơ sở dữ liệu.
- Thực chất dữ liệu quan sát được trong khung nhìn được lấy từ các bảng thông qua câu lệnh truy vấn dữ liệu.
Người sử dụng
Geodatabase đến tay người sử dụng lại bắt đầu từ
                + Những người không chuyên về lĩnh vực tin học, CSDL > Geodatabase phải có các công cụ giúp các đối tượng này khai thác CSDL hiệu quả.
                + Các chuyên viên tin học: là người tìm hiểu hay tiếp nhận yêu cầu của người sử dụng tạo ra CSDL
                + Ví dụ: Người quản trị GDB là những người hiểu biết về tin học, các hệ quản trị,… đặc biệt có kiến thức về địa lý.

3. Các thành phần trong Geodatabase.
Gồm 2 thành phần: Geodatabase một người sử dụng (Single – user GDB) và Geodatabase nhiều người dùng (Multiuser GDB)
3.1. Geodatabase một người sử dụng (Single – user GDB)
Geodatabase một người sử dụng
Geodatabase một người sử dụng

- Mô hình sử dụng hệ quản trị   cơ sở dữ liệu Access để lưu trữ dữ liệu không gian và thuộc tính.
- Nó chỉ hỗ trợ một người dùng và được cài đặt trên máy đơn.
- Dung lượng lưu trữ của mô hình này giới hạn do sự hạn chế về dung lượng lưu trữ của hệ quản trị cơ sở dữ liệu Access.

3.2. Geodatabase nhiều người dùng (Multiuser GDB)
Geodatabase nhiều người dùng
Geodatabase nhiều người dùng

- Enterprise Geodatabase: sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu nhiều người dùng như Oracle, SQL Server, DB2,... để lưu trữ dữ liệu.
- Dữ liệu lưu trữ được quản lý thông qua ArcSDE, dung lượng lưu trữ của mô hình này thường không giới hạn.
- Một số tính năng:
+ArcSDE tận dụng công nghệ đa người dùng geodatabases thực hiện trên một hệ thốngquản lý cơ sở dữ liệu quan hệ (RDBMS) nền tảng để.
+ Cung cấp cho các tổ chức lưu trữ, trung tâm dữ liệu mở rộng và hệ thống quản lý.
+ Sử dụng chức năng bổ sung mà không có sẵn trong geodatabases một người dùng .
+ Cung cấp tốt hơn dữ liệu bảo mật (như kiểm soát sự cho phép truy cập các bộ dữ liệucá nhân), sao lưu và phục hồi.
+ Duy trì tính toàn vẹn dữ liệu với các tính năng như sao lưu dữ liệu và phục hồi, rollback,và chuyển đổi dự phòng.
+ Có ba loại multiuser geodatabase: doanh nghiệp, nhóm làm việc, và cá nhân.
Tính năng của multiuser geodatabase
Tính năng của multiuser geodatabase

3.3. So sánh hai mô hình

MGDB
Oracle, Ms SQL server, Infomi
Một hoặc nhiều người dùng
Không giới hạn
SGDB
Ms Access
Không
Không
Một người dùng
Không
Có giới hạn

Trần Chí Tình

2 thg 6, 2014

"Nghề GIS"

GIS phải chăng là một nghề? Nếu vậy, mối quan hệ của nó với các ngành nghề khác trong lĩnh vực không gian địa lý là những gì? Làm thế nào bạn có thể cho biết nếu có ai đó tự xưng nghề nghiệp là chuyên gia GIS hoặc một nhà giáo dục GIS. Như thế, công việc của họ là gì? Điều làm bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng đây là những câu hỏi gây tranh cãi tại Hoa Kỳ và các bộ phận khác trên thế giới. Họ tranh cãi vì nhu cầu cho công việc GIS đã vượt qua nhu cầu đối với các loại công việc không gian địa lý, mặc dù thực tế rằng GIS là một ngành tương đối mới của lĩnh vực này. Vai trò hợp pháp và trình độ của các chuyên gia GIS là có tranh chấp và có cạnh tranh với lớp những người có quyền quyết định.

Bạn có cho rằng chính bạn một chuyên gia GIS? Hoặc là bạn nghĩ đến việc trở thành một chuyên gia? Với GIS chuyên nghiệp, tôi nghĩ rằng là một người sống bằng các công việc chuyên môn như bảng (xem bảng dưới đây), đòi hỏi kiến ​​thức tiên tiến của hệ thống thông tin địa lý và các công nghệ liên quan của không gian địa lý, dữ liệu, và phương pháp (qui trình). Nếu đó là những gì bạn làm, hoặc những gì bạn có thể muốn làm, thì bạn thể gọi là một chuyên gia GIS. Bạn có thể có một cuộc sống bằng công việc GIS, khả năng của bạn là một phần của một cộng đồng GIS mở và sáng tạo, và cơ hội của bạn là một phần của một cái gì đó lớn mà làm cho một sự khác biệt trên thế giới tất cả phụ thuộc vào cách trả lời những câu hỏi gây tranh cãi được.

 
 Vai trò công việc của ba ngành nghề không gian địa lý
Hình 1: Vai trò công việc của ba ngành nghề không gian địa lý vượt qua ranh giới của ngành công nghiệp không gian địa lý và chồng chéo nhau. Nghề nghiệp từng có một "trung tâm của hàng loạt" trong vòng một khu vực.Không phải tất cả các ngành nghề GIS được mô tả. 
Tác giả đã quan tâm đến chuyên nghiệp hóa trong công việc GIS kể từ Bill "Hux" Huxhold và những người khác nêu ra những câu hỏi này trong những năm 1990. Nhưng đáng tiếc, Hux mắc bệnh thần kinh ở cuối những năm 1990, và ông ta không thể tiếp tục sự quan tâm về công việc này được.

Hux từng giận rằng không có tiêu chuẩn để đảm bảo trình độ chuyên môn của các chuyên gia GIS. "Nó có thể được", ông hỏi, "mà bất cứ ai có thể vượt qua chính mình như là một 'chuyên gia GIS’?". Hux cũng nêu lên sự vắng mặt của một cơ chế kiểm soát chính thức chất lượng cho giáo dục GIS. "Ai đó có thể hay không nói về những gì để dạy sinh viên ngành GIS?" Để lấp đầy khoảng trống này, Hux, Nancy Obermeyer, và một vài người khác đề xuất một chương trình chứng nhận chính thức chuyên nghiệp cho các chuyên gia GIS. Hux thuyết phục Hiệp hội Hệ thống Thông tin Vùng miền và Đô thị (URISA) để thành lập một ủy ban cấp giấy chứng nhận để nghiên cứu các vấn đề và đề nghị một giải pháp. Ông cũng lập luận cho một chương trình công nhận chính thức cho GIS trong giáo dục đại học.

 DỰNG NGHỀ GIS
Tác giả bài báo này là một nhà giáo dục tại Đại học Penn State vào thời điểm đó, và những lập luận này đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho tác giả. Giống như nhiều nhà giáo dục khác, tác giả đã hoài nghi về khả năng cấp giấy chứng nhận và công nhận để đảm bảo năng lực và chất lượng. Nhưng càng đọc và càng ngẫm, tác giả nghĩ rằng nên chuyên vào thứ gì đó hơn là sự hoàn hảo tất cả. Học gì về GIS là quyền của học viên, một vài người trong số họ là những sinh viên của tác giả và đang làm việc với sự tôn trọng bên cạnh các đồng nghiệp chuyên gia không gian địa lý khác.

Từ thời điểm mà Bộ Lao động và quản trị đào tạo Mỹ (DOLETA) giới thiệu công nghệ không gian địa lý như là một ngành công nghiệp tăng trưởng cao, cảnh báo rằng sự vắng mặt của một định nghĩa thống nhất và nâng cao nhận thức công chúng về lĩnh vực này đặt ra một trở ngại cho sự tăng trưởng của nó. Như nhà triết học Michael Davis nói: "Cũng như không ai thích một người đàn ông khôn ngoan, không ai thích một định nghĩa" (2002). Tuy nhiên, trong một ý nghĩa nào đó, định nghĩa một điều gì đó để tạo ra nó. Tôi tin rằng những người đi đầu và những người kế nghiệp của họ đã giúp tạo ra một nghề GIS phát triển đến nay.

LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG KHÔNG GIAN ĐỊA LÝ
Cho đến gần đây, chúng tôi đã có được nội dung với bằng chứng về kích thước và phạm vi nghề GIS. Ước tính đáng tin cậy của việc làm GIS đã không tồn tại ở Hoa Kỳ hoặc hầu hết bất cứ nơi nào khác. Tuy nhiên, bằng chứng là đủ để lo lắng DOLETA và những người khác có nhu cầu lực lượng lao động đã tăng trưởng nhanh hơn so với năng lực của các cơ sở hạ tầng giáo dục không gian địa lý. Học sinh giỏi có xu hướng để có được việc làm tốt. Sau đó, sự tự tin suy yếu phần nào trong thời kỳ suy thoái, khi công việc của mỗi loại trở nên khó khăn hơn nhiều để tìm và giữ.

Kích cỡ và phạm vi của lực lượng lao động GIS được đưa vào tập trung sắc nét hơn khi DOLETA thành lập hai nhà ngành nghề về: nhà khoa học thông tin địa lý; và Công nghệ và kỹ thuật viên GIS vào cuối năm 2009 và khi nó xác định năng lực cốt lõi của các chuyên gia không gian địa lý trong năm 2010. Cùng với các định nghĩa nghề nghiệp mới là ước tính thô sơ đầu tiên về kích thước và tốc độ tăng trưởng của lực lượng làm việc GIS tại Mỹ.

Những ước tính việc làm và dự báo tăng trưởng trong bảng kèm theo không thêm lên bởi vì một số ước tính chồng lên nhau. Tuy nhiên, ngay cả khi trùng lặp được dự báo, các ước tính vẫn còn ấn tượng: gần 425.000 chuyên gia không gian địa lý được sử dụng trong năm 2010 tại Mỹ, các nhà phân tích lực lượng công việc DOLETA nói, và gần 150.000 nhân lực khác sẽ được tạo ra vào năm 2020. Đáng kể là hai GIS đầu tiên chiếm thị phần lớn nhất của những việc làm ước tính khoảng một nửa của tất cả các công nhân Mỹ không gian địa lý trong năm 2010, và gần hơn một phần ba các vị trí mới được tạo ra vào năm 2020. Ước tính kích thước của lực lượng lao động không gian địa lý vượt ra ngoài Hoa Kỳ là khó tìm thấy, nhưng một số nghĩ rằng đã có khoảng hai triệu người sử dụng GIS chuyên nghiệp trên toàn thế giới trong năm 2005 (Longley et al. 2005).
nhân lực trong 10 ngành liên quan đến GIS
Hình 2: Ước tính năm 2010 tại Mỹ về nhân lực trong 10 ngành liên quan đến GIS và sự phát triển đến năm 2020 (Nguồn: US Bureau of Labor Statistics, xem tại http://www.onetonline.org)

Trong khi đó, triển vọng việc làm về GIS rất tốt ở nhiều lĩnh vực. Theo lời của Richard Serby, chủ tịch GeoSearch Inc, một chuyên gia tuyển dụng hàn đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin địa lý, cho rằng: cơ hội nghề nghiệp trong phần lớn các lĩnh vực đều tăng (tại Mỹ) và phục hồi được trạng thái ở  hầu hết các ngành nghề. Serby chỉ ra rằng trang Indeed.com đã liệt kê hơn 11.000 công việc làm về GIS chỉ trong giai đoạn 15/2/2012 đến 15/3/2012. Và hơn nữa số công việc đó đều có chức danh về GIS, và một số ít công việc  khác đều có nhắc đến GIS trong yêu cầu công tác.

XÁC ĐỊNH PHẠM VI CÁC NGHIỆP VỤ GIS
Trong năm 2010, tổ chức DOLETA đã ban hành Mô hình Cạnh tranh Công nghệ Không gian (GTCM) để nhận dạng kiến thức chuyên môn và khả năng thành công của các chuyên gia GIS. Mô hình GTCM hữu ích đối với những người làm trong lĩnh vực GIS, đó có thể coi là cẩm nang thăng tiến trong nghề nghiệp GIS của họ. Người lao động có thể sử dụng nó để mô tả công việc và để phỏng vấn. Các sinh viên có thể sử dụng GTCM để đánh giá mức độ hiểu biết, những gì cần học thêm và đánh giá sự phù hợp của chương trình đào tạo so với nhu cầu thực tế. Các nhà giáo dục có thể sử dụng nó để đánh giá về đề cương giảng dạy. Và các chứng nhận, chứng chỉ có thể sử dụng để làm nền tảng đáp ứng nhu cầu trong tuyển dụng. Tài liệu về GTCM được phát hành miễn phí và tổ chức nào cũng có thể sử dụng, tại địa chỉ www.careeronestop.org/competencymodel.

Ngoài 43 năng lực thiết yếu phổ biến với hầu hết trong những ngành nghề GIS, GTCM xác định 19-24 năng lực cần thiết cho mỗi ba ngành công nghiệp: định vị và thu thập dữ liệu; phân tích và mô hình hóa; và phần mềm và phát triển ứng dụng. Các lĩnh vực đại diện cho "cụm năng lực đưa người lao động đi làm việc có liên quan với ba loại chính của các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ không gian địa lý". Sơ đồ trên cho thấy phạm vi trách nhiệm trong ba ngành nghề không gian địa lý trong mối quan hệ với các ngành công nghiệp và với nhau.

Cuộc tranh luận về vai trò hợp pháp của các chuyên gia GIS phát sinh do hoạt động của họ có xu hướng để chồng chéo lên các ngành nghề khác không gian địa lý. Sự chồng chéo gây ra tranh cãi nhưng cũng là cơ hội hợp tác giữa các ngành nghề. J. Alison Butler, một người giàu kinh nghiệm và thẳng thắn của nghề GIS, chỉ ra rằng chồng lấn có xu hướng được bổ sung. Ví dụ, các điều tra viên chuyên nghiệp và các chuyên gia GIS làm nhiều điều tương tự nhưng thường ở quy mô địa lý khác nhau ("khảo sát làm việc tại một quy mô 1:1", Butler nói, trong tương phản với các chuyên gia GIS, những người làm việc "ở quy mô nhỏ hơn và không cần phải chính xác như vậy"). Và mặc dù vai trò chuyên nghiệp chồng chéo lên nhau, mỗi chuyên ngành không gian địa lý thể hiện một "trung tâm của quần chúng", hoặc tập trung trong một khu vực (xem hình 2).

Đỉnh cao của nghề GIS là phân tích và mô hình. Các chuyên gia GIS có xu hướng trở thành người sử dụng cuối của dữ liệu và phần mềm. Họ được nhiều lĩnh vực thuê như tài nguyên thiên nhiên, chính phủ, an ninh quốc phòng,... Đặc điểm và sự phân bố của nghề GIS khác với các ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, trách nhiệm chính của hầu hết các chuyên viên GIS là sử dụng phần mềm chuyên dụng để xử lý dữ liệu địa lý. Hơn thế, nhiều chuyên gia GIS cũng thu thập và xử lý dữ liệu GIS (tuân theo các ràng buộc trong các quy định của chính phủ đối với các hoạt động thu thập dữ liệu công cộng và phúc lợi). Một số chuyên viên GIS có nhiệm vụ thiết kế và cài đặt các hệ thống CSDL không gian hoặc phát triển phần mềm ứng dụng.

Trong bài viết này, tác giả định nghĩa chuyên gia GIS theo nghĩa hẹp hơn, là người sống và làm việc với GIS. Chủ biên Joe Francica chỉ ra rằng: “không chuyên gia nào trở thành ‘location aware’ và là ‘thinking spatially’”. Ngày qua ngày, Francica và những người quan sát cho rằng: “khi kiến thức của các ‘công nhân’ phụ thuộc vào ‘kẻ cung cấp bản đồ’ để làm nền định vị thông tin, thì mọi người sẽ trở thành ‘kẻ cung cấp bản đồ’”. Thậm chí ngay cả nhiều người có khả năng truy cập bản đồ hoặc có các thông tin địa lý thì các chuyên gia GIS không thể bị thay thế. Ngược lại, người lao động ước tính nhu cầu chuyên gia GIS dường như đang tăng tại những nơi nhận thức về không gian tăng.

GIS LÀ MỘT NGHỀ HỌC KINH NGHIỆM

Làm thế nào để GIS đứng vào hàng ngũ các nghề chính thống
Hình 3: Làm thế nào để GIS đứng vào hàng ngũ các nghề chính thống (hình trong bài báo)
Không phải tất cả mọi người đều đồng ý rằng nghề GIS đã tồn tại. Các cuộc tranh luận về liệu GIS có đủ điều kiện trở thành nghề riêng đã tồn tại gần 20 năm nay. Tuy nhiên, đến ngày nay, theo hầu hết các định nghĩa, hầu như các tranh luận này không còn nữa. Ví dụ, xét định nghĩa về kỹ sư nghề trong chuẩn lao động Mỹ (FLSA - US Department of Labor's Fair Labor Standards Act). Ta thấy, để chuẩn hóa thành một kỹ sư nghề theo FLSA, nhiệm vụ chính của một người lao động là phải cần kiến thức nâng cao, các kiến thức liên quan đến, nguyên văn là “exercise of discreation and judgment”. Kiến thức nâng cao “phải trong lĩnh vực khoa học hoặc học thuật” (có thể so sánh như các ngành dược, luật, thần học, kế toán, kỹ sư, giáo viên,…) và “phải được học trong một khóa học dài hạn với sự hướng dẫn chuyên ngành."

KIẾN THỨC NÂNG CAO
Kiến thức nâng cao để phân biệt các chuyên gia GIS hiện nay đã được định nghĩa tương đối hoàn chỉnh. Thuở ban đầu, đại học Consortium về Khoa học Thông tin Địa lý (UCGIS) đã có những nỗ lực xác định khối kiến thức đặc trưng lĩnh vực GIS từ năm 2006. Xây dựng trên nền tảng đó, DOLETA ban hành GTCM vào năm 2010. Như đã nói ở phần trên, DOLETEA cũng mô tả chi tiết 10 ngành nghề liên quan đến GIS, bao gồm từ nhà khoa học, kỹ sư đến đến mức kỹ thuật viên về thông tin địa lý.

GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT
Đào tạo bài bản thường bao gồm các yêu cầu trong nghề GIS và cách đào tạo này liên quan đến chứng chỉ chuyên gia GIS (GISP). Hàng nghìn sinh viên hiện nay nhận các chứng chỉ và bằng cấp từ các trường đại học và cao đẳng từ các trường đại học khắp thế giới. Khoảng 7000 trường đại học và cao đẳng trên thế giới, bao gồm hơn 85% các viện được Thời  báo London xếp hạng top 400 – các viện này có chi phí đào tạo thấp và cấp giấy chứng nhận về phần mềm ArcGIS của Esri. Và từ khi Esri miễn phí 1 năm giáo dục về phần mềm đối với các cá nhân trong mùa thu 2005, hơn 450000 sinh viên khắp thế giới yêu cầu DVDs và tải phần mềm về. Khi đó, ta thấy sự xuất hiện lớp đào tạo phần mềm ArcGIS không cần học phí được sinh viên sử dụng trên các máy cá nhân của họ và giúp họ nâng cao đào tạo trực tuyến về GIS, nhất là đối với người có tuổi không có điều kiện đến trường, họ vẫn có thể tham gia các loại hình đào tạo chính quy như vậy.
GIS dường như quá rõ về việc định chất đối với người học nghề dưới định nghĩa của FLSA.  Kiến thức nâng cao được phân biệt trong ngành nghề được định nghĩa rõ ràng. Các khóa học đặc biệt được tổ chức rộng, thu hút lượng lớn và liên tục gia tăng số lượng người đăng ký học.

ĐẠO ĐỨC TRONG NGHỀ GIS
Trong một góc nhìn “một nghề cho chín” (a profession) cũng là một nghề (occupation), và sự khác biệt là kiến thức đặc biệt và sự giáo dục. Hơn nữa một đặc điểm để cho “một nghề cho chín” đó là những quy tắc đạo đức trong nghề.

Trước năm 1990, Will Craig – một người tiên phong về GIS và hệ thống thông tin đô thị và vùng miền – chỉ ra nhu cầu cần có một quy tắc trong nghề GIS và ông đã viết ra một số quy tắc. Craig đã bắt đầu bằng việc kiểm định những quy tắc đạo đức nghề trong các lĩnh vực khác. Sau đó, ông ta đã tìm thấy “sự tương tự đầy ngạc nhiên” giữa chúng. Hầu hết đều phản ánh “trách nhiệm” hoặc “bổn phận” trong đạo đức nghề nghiệp. “Bổn phận đối với xã hội”, ông thấy trong nghiên cứu về đạo đức nghề rằng, “thường nổi trội hơn các vấn đề khác”. Năm 2004, GIS Code of Ethics (Quy tắc đạo đức nghề trong GIS) được viện chứng nhận GIS (GISCI – GIS Certification Institute) phê chuẩn với sự trợ giúp của nhiều thành viên trong cộng đồng GIS. Và sau này nó được phát triển thành Rules of Conduct (Bộ quy tắc ứng xử). Để đạt chứng chỉ GISP, các ứng viên  phải cam kết giữ quy tắc và các luật lệ. Cùng với thuật ngữ liên quan đến thách thức về đạo đức trong ngành là một cam kết khác về nghề nghiệp lâu dài.

CHỨNG CHỈ VÀ GIẤY PHÉP HÀNH NGHỀ
Một đặc tính phân định nghề nghiệp là chứng nhận hoặc giấy phép hành nghề. Chúng ta thường nghĩ rằng những thứ đó là thứ để các practitioner cạnh tranh và mô tả giá trị thực của họ. Tuy nhiên, một cách nghĩa khác là các chứng chỉ để làm hành trang cho việc tiếp tục phát triển sự nghề GIS. Đến nay, GISCI đã cấp hơn 5000 chứng chỉ chuyên gia đối với người hoàn thành về giáo dục, có kinh nghiệm và đóng góp trong sự nghiệp. Để đạt được một chứng chỉ, các chuyên gia GIS (GISP) phải được đào tạo và đóng góp chính thức cho sự nghiệp. Những yêu cầu này làm mạnh thêm nghề nghiệp để đảm bảo rằng các chuyên gia phải “giữ mức” trên thực địa thông qua việc phát triển nghề.

Khác với các chứng chỉ cho các nghành nghề được khảo sát ở Mỹ, chuyên gia GIS cần phải cụ thể (ví dụ, ban Nam Caraline cần người khảo sát thì chuyên gia GIS phải có chứng chỉ “GIS Surveyors”). Điều khác biệt này do độ tuổi người làm GIS phải nhỏ hơn người làm khảo sát. Tuy nhiên, những phát triển gần đây đề xuất rằng chứng chỉ GIS không cần phải mô tả quá chi tiết. Dựa theo Max Baber (làm việc tạo US Geospatial)

CÁC TỔ CHỨC NGÀNH NGHỀ VỀ GIS
Một đặc điểm khác của GIS với các ngành nghề là sự chuyên biệt hóa ở các tổ chức làm về GIS, làm việc tận hiến để nâng tầm  ngành nghề. Các tổ chức như vậy thường hướng đến phục vụ các thành viên thông qua các cơ hội phát triển nghề nghiệp và thông qua công việc của họ trong lĩnh vực đó. (tại một số nước, danh sách các tổ chức được đăng tải tại trang web: http://www.edcommunity.esri.com). Những người tình nguyện và các ứng viên tham gia vào các tổ chức đó là một minh họa cái mà GISCI định nghĩa là “đóng góp cho ngành nghề”.

HƯỚNG ĐẾN Ý NIỆM ĐẠO ĐỨC LÍ TƯỞNG TRONG NGHỀ GIS
Nghề GIS có tất cả các cạm bẫy của một nghề nghiệp, bao gồm sự khác biệt về kiến thức nâng cao, các giáo dục đặc biệt, các quy tắc đạo đức trong nghề, cơ chế để đạt được chứng chỉ chuyên gia, và chuyên gia từ các tổ chức. Điều đang thiếu là một đặc tính cụ thể - một tính chất về dẫn chứng trong tinh thần như các tín đồ và niềm tin tuyệt đối vào nghề như các ngành nghề y tế, luật và thậm chí là kế toán. Darrel Pugh, tác giả thường được nhắc đến trong danh sách định nghĩa về các nét chính cho các ngành nghề, bao gồm các một ngành nghề mà ông gọi là “lý tưởng xã hội”. Đối với Michael Davis, việc phục vụ một ý tưởng đạo đức là một đặc tính cho tất cả các ngành nghề. Nhà vật lý và đạo đức học John W.Lewis khẳng định rằng một nghề phải có “sản phẩm chính nào đó và phải cam kết đảm bảo chuyển tải được sự yêu tích đến người khác trong khi thể hiện các dịch vụ nào đó. Năm 2012, hội nghị Esri Partner, Jack Dangermond lưu  ý đến những người tham dự: “chúng ta phải có mục đích lèo lái để tạo sự khác biệt trong thế giới”.

Câu hỏi giờ là: làm cách nào để một chuyên gia GIS ưa thích về các công tác xã hội? và Bài học lý tưởng cho các chuyên gia GIS về đạo đức là gì? Một số phần dưới đây sẽ đề xuất mô hình:

Ý tưởng về đạo đức nghề nghiệp là ứng dụng các công nghệ géopatial, và “cách nghĩ có liên quan đến không gian đến các thiết kế không thể phù hợp trong tương lai về người và lĩnh vực!

NHỮNG THỬ THÁCH
Nghề GIS có liên quan đến người trẻ. Đó là mặt yếu và có nhiều mối đe dọa thực sự trong đó. Một số câu hỏi đặt ra vấn đề là các chứng chỉ chuyên gia GIS vẫn còn là tự phát và không có một qui trình chuẩn nào để đào tạo. Một số chương trình đào tạo thì đọc quyền về sử dụng các công nghệ GIS nào đó. Với những thách thức đó, chuyên gia về GIS cần làm việc rất nhiều, tự làm việc và làm việc tập thể, để tăng cường nghề cho bản thân.

BẢY ĐIỀU MÀ CHUYÊN VIÊN GIS NÊN LÀM ĐỂ “NHẤT NGHỆ TINH, NHẤT THÂN VINH”
1. Lấy chứng chỉ GISP hoặc tương đương, phụ thuộc vào nơi sinh sống của bạn và bạn cần làm gì. Chứng chỉ chuyên gia là hành trang để ta cạnh tranh và đẩy mạnh việc thực hành và tiếp tục phát triển các ngành nghề. Các chứng chỉ của ESRI có giá trị, nhưng chúng không thể thay thế cho các chứng chỉ chuyên gia/nghề. Chúng ta nên chuẩn hóa theo nghề bạn đang làm và đó cũng là cách bạn tăng cường nghề nghiệp. Vì sau này, khi cộng đồng GIS nơi bạn tăng lên, thì bạn sẽ có cơ hội tốt cho sự lựa chọn của mình.

2. Định hình kế hoạch nghề nghiệp GIS của bạn, bao gồm việc học chính thức và các đóng góp trong các công trình. Nếu như bạn không có cơ hội được đi học chính quy, bạn hãy tham gia học các lớp cấp chứng chỉ (như chuẩn GTCM đề xuất).

3. Tham gia và trở thành thành viên hoạt bát trong một hoặc nhiều tổ chức với sự hứng thú trong lĩnh vực GIS. Người chủ thông minh sẽ hỗ trợ bạn tham gia. Nếu chúng ta không thích công việc hỗ trợ, chúng ta cũng nên tham gia và tìm kiếm công việc tốt hơn.

4. Có thể giải thích tự nhiên về nghề nghiệp, lịch sử theo nghề và sự háo hức trong công việc liên quan đến GIS.
5. Tạo quan hệ tốt trong lúc làm việc, các đồng nghiệp. Tham gia nhiều vào các công việc GIS khi có cơ hội. Và luôn ghi nhớ rằng đối thủ của bạn thường không phải là đồng nghiệp cùng chuyên môn với bạn mà là các nhà vận động hành lang và luật sư đứng để đạt được hầu hết các quy định độc quyền.

6. Tham gia các hoạt động  GIS liên quan đến lợi ích xã hội. Giúp xã hội tăng cường nhận thức về Ngày GIS. Trở thành người truyền đạt GIS trong trường học. Sẵn sàng phục vụ cho một ban cố vấn học tập cho một trung tâm hoặc một chương trình đào tạo ở bậc giáo dục. Khuyến khích những chương trình tương ứng được GTCM đề cập.

7. Bình dân hóa về ý tưởng GIS: nhấn mạnh các công việc để phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân như được trình bày bổ sung trong bài viết:

Vài nét về tác giả

David DiBiase là giám đốc về giải pháp giáo dục công nghệ của Esri. Trước khi gia nhập Esri năm 2011, tác giả là người sáng lập hệ thạc sỹ Penn State Online và các chương trình chứng chỉ khác trong GIS. Là thành viên của ủy ban cấp chứng chỉ URISA, tác giả đã hỗ trợ thiết kế mục tiêu của hơn 5,000 loại chứng nhận GIS chính thống. Trước đây, tác giả là chủ tịch của GISCI.

Khưu Minh Cảnh – Lược dịch
Trần Chí Tình Blogger